Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
Thời sự y học
 

HERPES SINH DỤC VÀ THẦY THUỐC CHĂM SÓC
SỨC KHỎE BAN ĐẦU

(Tiếp theo Bản tin AIDS Số 18, 12/2003)

Bảng 4. Một số nguồn lực cho BN herpes sinh dục

Cơ quan

Đặc điểm

Địa Chỉ Liên hệ

American Social Health Association
(ASHA)

Đây là nguồn dịch vụ khá đầy đủ cho BN, bạn tình của mình và người chăm sóc sức khỏe. Cung cấp  thông tin về việc dự phòng herpes, sàng lọc và thông tin xử trí bệnh tật. Đây là Nhà của Trung Tâm Nguồn Lực Herpes Quốc Gia

http:///www.ashastd.org/

HerpesWeb

Cung cấp thông tin cập nhật về herpes cho BN, bao gồm các câu hỏi, thảo luận và lời khuyên

http://www.herpesweb.net/
general/menupage/general_info.htm

The International Herpes Management Forum

Bao gồm các chủ đề cho thầy thuốc và BN

http://www.ihmf.org/Patient
/PatientResources.asp

Patient Information on Genital Herpes

Thông tin về herpes từ Ban STDs của Trung Tâm Quốc Gia Phòng Chống HIV, STD và Lao của CDC Hoa Kỳ

http://www.cdc.gov/nchstp/
facts_Genital_Herpes.htm

National Herpes Hotline

Do ASHA thực hiện. Tham vấn và giới thiệu chuyển bệnh miễn phí. Một danh sách các nhóm hỗ trợ được đăng tải trên web

http://asha.org/phone/hsrvef.html

National STD Hotline

 

Cung cấp thông tin về sức khỏe, giới thiệu chuyển bệnh, tư liệu giáo dục sức khỏe về các bệnh STDs

 

Planned Parenthood

Cung cấp các chương trình giáo dục về chẩn đoán và điều trị herpes sinh dục và cùng chung sống với bệnh

http://www.plannedparenthood.org

 

ĐIỀU TRỊ KHÁNG VIRÚT
Điều trị herpes sinh dục bằng trị liệu kháng virút hữu hiệu hiện đang lưu hành. Những thuốc này có thể được sử dụng điều trị cơn cấp hay điều trị ức chế virút lâu dài. (Xem Bảng 5 “Trị liệu herpes sinh dục và liều lượng”). Acyclovir, famciclovir, và valacyclovir từng được sử dụng trong điều trị cơn cấp và điều trị ức chế lâu dài. Cả 3 thuốc này cho thấy giảm lây lan virút ở thời kỳ không triệu chứng và giảm tần số và độ nặng của các cơn tái phát.

Bảng 5. Trị liệu kháng virút herpes sinh dục và liều lượng

Tên thuốc/Tên thương mại

Liều lượng (Thay đổi khi suy giảm chức năng thận)

Cơn tiên phát

Cơn cấp tái phát

Ức chế các cơn tái phát

Valacyclovir/
Valtrex

1 g x 2 lần/ngày x 7-10 ngày

500mg x 2 lần/ngày x 3-5 ngày;
1000mg x 1 lần/ ngày  x 5 ngày

</=9 cơn /năm: 500mg hàng ngày
> 9 cơn/năm: 1 g hàng ngày

Acyclovir/
Zovirax

400mg x 3 lần/ngày, 7-10 ngày;
200mg x 5 lần/ngày, 7-10 ngày

200mg x 5 lần/ngày x 5 ngày;
400mg x 3 lần/ngày x 5 ngày;
800mg x 2 lần/ngày x 5 ngày;

400 mg x 2 lần / ngày

Famciclovir/
Famivir

250mg x 3 lần/ngày x 7-10 ngày

125 mg x 2 lần/ngày x 5 ngày

250 mg x 2 lần / ngày

Foscarnet/
Foscavir (*)

Không áp dụng

40mg/kg truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ trong 2-3 tuần đến khi sang thương lành

Không áp dụng

(*):BN HIV và suy giảm miễn dịch bị herpes sinh dục kháng với các thuốc khác. Để biết thêm thông tin về chế độ điều trị ở người nhiễm HIV và suy giảm miễn dịch, xin xem phần “Điều trị cho các quần thể đặc biệt”


Điều trị cơn cấp herpes sinh dục
Nếu BN từng có các cơn tái phát không thường xuyên, thì nên chọn điều trị các cơn cấp. Trong trường hợp này, trị liệu kháng virút cho thấy giảm đi các triệu chứng, giảm lây lan virút, sang thương lành mau hơn. Tuy nhiên, người ta khuyến cáo rằng nên khởi phát điều trị “Ngay ngày sang thương xuất hiện, hay thời kỳ tiền triệu”. Vì vậy, thuốc men nên sẵn sàng để BN chọn lựa.

Acyclovir được ghi nhận là thuốc lâu đời nhất trong điều trị herpes sinh dục. Các nghiên cứu cho thấy 400mg hoặc 800mg 2 lần/ngày trong 5 ngày cho kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, liều acyclovir trong điều trị cơn thường phải dùng nhiều lần trong ngày hơn so với valacyclovir hoặc famciclovir, 200mg x 5 lần, 400mg x 3 lần/ 5 ngày hay 800 mg x 2 lần trong 5 ngày. Tuân thủ theo chế độ điều trị như vậy là một thách thức lớn cho nhiều BN.

Valacyclovir là một ester của acyclovir với khả dụng sinh học qua đường uống cao gấp 3-5 lần acyclovir. Nhiều thử nghiệm lâm sàng do Nhóm Nghiên Cứu HSV Valacyclovir cho thấy valacyclovir liều 500mg hay 1000mg hai lần ngày trong 5 ngày rút ngắn thời gian lành sang thương, giảm thời gian đau đớn và lây lan virút và phòng ngừa phát triển các sang thương mới. Thời gian trung vị của các cơn bộc phát ở BN được điều trị liều 500mg là 4 ngày, so sánh với 5,9 ngày ở nhóm placebo. Hai nghiên cứu khác sau đó cũng cho thấy liều 500mg valacyclovir trong 3 ngày cũng cho hiệu quả tương tự.

Các phác đồ dùng valacyclovir điều trị các cơn bộc phát đã được nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu từ Nhóm Nghiên Cứu Genival ở Pháp đã phân ngẫu nhiên 922 BN suy giảm miễn dịch thành 2 lô, hoặc dùng 1000mg 1 lần/ ngày hoặc 500mg 2 lần/ngày. BN tự khởi trị ngay khi phát hiện dấu hiệu đầu tiên của herpes tái phát. Một số thông số chính là phần trăm sang thương lành vào ngày thứ 6, thời gian lành sang thương và hết đau, và BN than phiền khó chịu hay ngứa ngáy. Phân tích dự kiến điều trị cho thấy 2 lô trên cho kết quả như nhau. Các phác đồ có valacyclovir được khuyến cáo là 500mg x 2 lần/ngày x 3-5 ngày, hoặc 1000mg x 1 lần/ngày x 5 ngày.

Famciclovir là một tiền chất của penciclovir, dạng uống tan trong mỡ, có khả dụng sinh học cao hơn penciclovir, một thuốc kháng virút từng được dùng trong các chế phẩm thoa bôi các sang thương herpes. Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi thực hiện ở nhiều trung tâm do Nhóm Nghiên Cứu Famciclovir Canada cho thấy BN tự khởi trị, famciclovir 2 lần/ngày liều 125mg, 250mg và 500mg thì an toàn và hiệu quả trong việc rút ngắn thời gian lây lan virút và thời gian lành sang thương. Tất cả các liều đều được dung nạp tốt và ít tác dụng phụ. Chế độ điều trị famciclovir khi điều trị các cơn là 125mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.

Điều trị ức chế herpes sinh dục hàng ngày
Đối với những bệnh nhân thường bị tái phát, việc điều trị  ức chế mỗi ngày là một chọn lựa có hiệu quả hơn. Acyclovir và famciclovir uống ngày hai lần hoặc valacyclovir ngày uống một lần là những phác đồ điều trị chuẩn cho việc ức chế lâu dài sự tái phát của HSV-2.

Nhìn chung, việc điều trị ức chế được dung nạp tốt, có hiệu quả và không có các tác dụng phụ đáng kể nào. Đối với những bệnh nhân chưa có tổn thương hệ miễn dịch thì có rất ít nguy cơ phát triển virút kháng thuốc.

Đến nay, acyclovir đã được sử dụng trên 20 năm, nó cũng đã được sử dụng cho trẻ em và điều trị tại chổ herpes môi sinh dục. Năm 1988, các nghiên cứu mù đôi đa trung tâm ở University of New Mexico School of Medicine về acyclovir cho thấy tính an toàn và hiệu quả của việc điều trị  bằng acyclovir 400 mg ngày hai lần trong hơn 1 năm. Một nghiên cứu khác của Goldberg và cộng sự cho thấy cũng với phác đồ điều trị trên kéo dài 5 năm làm giảm tần suất phát bệnh khi so sánh với việc điều trị từng đợt cũng với thuốc trên. Liều acyclovir hiện nay được khuyến cáo là 400mg x 2 lần/ngày.

Các thuốc kháng virút điều trị herpes sinh dục mới hơn như valacyclovir và famciclovir cũng đã chứng tỏ hiệu quả của chúng trong điều trị ức chế herpes sinh dục.

Một tạp chí năm 2002 về các dữ liệu thử nghiệm lâm sàng trên 3000 bệnh nhân về việc so sánh tính hiệu quả và an toàn giữa valacyclovir và acyclovir. Một nghiên cứu năm 1999 tại State University của New York ở Stony Brook, các nhà nghiên cứu đã sử dụng valacyclovir 500 mg/ngày cho 127 bệnh nhân hiện mắc herpes sinh dục, cho thấy 65% trong số 46 nữ và 69% trong số 81 nam vẫn còn tái phát trong suốt 1 năm nghiên cứu. Trị liệu được dung nạp tốt, tác dụng phụ ít xảy ra và nhẹ. Ngoài ra, một nghiên cứu từ Sexually Transmitted Diseases tháng 3, 2003 thông báo rằng bệnh nhân thích được điều trị valacyclovir một lần/ngày hơn là việc điều trị từng đợt với thuốc này.

Với những bệnh nhân có khả năng miễn dịch, liều chuẩn được khuyến cáo cho valacyclovir trong điều trị ức chế mạn tính là 1000 mg ngày 1 lần. Hoặc đối với những bệnh nhân có tiền sử tái phát ≤ 9 lần trong năm, có thể dùng valacyclovir với liều 500 mg ngày một lần. Bên cạnh độ khả dụng sinh học của valacyclovir cao hơn acyclovir, chế độ điều trị ngày một lần của valacyclovir cũng là một thuận lợi đáng kể gia tăng sự hài lòng của bệnh nhân trong điều trị. Hơn nữa, valacyclovir có thể được dùng kèm với thức ăn.

Famciclovir cũng được sử dụng mỗi ngày để ngăn chặc sự tái phát  herpes sinh dục. Các thử nghiệm có đối chứng với placebo, mù đôi và đa trung tâm do Nhóm Nghiên Cứu Herpes Sinh Dục Famciclovir Cộng Tác (Collaborative Famciclovir Genital Herpes Research Group) đã thử nghiệm với các chế độ điều trị có liều lượng khác nhau để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của việc điều trị ức chế dài hạn với thuốc này. Trong một nghiên cứu 52 tuần, famciclovir được sử dụng liều 125 mg hay 250 mg x 3 lần/ ngày, hoặc 250 mg x 2 lần/ngày. Trong một nghiên cứu khác, famciclovir được dùng 125 mg x 1-2 lần/ ngày, 250 mg x 1-2 lần/ngày, và 500 mg x 1 lần/ngày x 4 tháng. Cả hai nghiên cứu trên cho thấy khi so sánh với placebo, famciclovir làm giảm đáng kể các tác dụng phụ và số lần tái phát trung bình. Liều famciclovir được khuyến cáo trong điều trị ức chế HSV-2 là 250 mg x 2 lần/ngày.

Điều trị cho một số quần thể đặc biệt
Bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HSV. Những người bị nhiễm HIV-1 thường kèm theo nhiễm HSV-2. Bệnh sử của HSV-2 thường thay đổi. BN đồng nhiễm thường bị tái hoạt HSV-2 trên lâm sàng hoặc cận lâm sàng so với BN chỉ nhiễm HSV-2. Hơn nữa, sự tương tác giữa HSV-2 và HIV-1 có thể làm tăng khả năng lây truyền HIV-1 qua đường tình dục và làm tăng tốc độ sao mã của HIV trong suốt quá trình tái hoạt của HSV vì thế việc điều trị cho quần thể đồng nhiễm này là hết sức cần thiết.

Khuyến cáo cho điều trị từng đợt ở những bệnh nhân nhiễm HIV trong 5-10 ngày với acyclovir 400 mg x 3 lần/ngày hoặc 200 mg x 5 lần/ngày; famciclovir 500 mg x 2 lần/ngày; hoặc valacyclovir 1000 mg x 2 lần/ngày. Khuyến cáo cho điều trị ức chế mỗi ngày với acyclovir 400 – 800 mg x 2-3 lần/ngày, famciclovir 500 mg x 2 lần/ngày, và valacyclovir 500 mg x 2 lần/ngày.

Hiện nay, cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) khuyến cáo valacyclovir là thuốc kháng virút hàng đầu được chỉ định đặc biệt cho điều trị ức chế mỗi ngày herpes sinh dục tái phát ở những bệnh nhân nhiễm HIV. Đối với những bệnh nhân nhiễm HIV có lượng tế bào CD4+>/= 100 tế bào/mcl thì valacyclovir được khuyến cáo sử dụng với liều 500 mg x 2 lần/ngày.

Bệnh nhân đồng nhiễm HIV và HSV có thể đề kháng với acyclovir hoặc các thuốc kháng virút độc lập với men thymidinekinase. Nếu bệnh nhân nhiễm chủng HSV đề kháng acyclovir thì truyền foscarnet là cần thiết, mặc dù nó có độc tính  hơn các thuốc kháng virút khác. Ơ bệnh nhân có chức năng thận bình thường bị nhiễm HSV đề kháng với acyclovir có thể được điều trị  2-3 tuần với foscarnet truyền 40 mg/kg trên 1 giờ và cách mỗi 8 giờ. Ơ những bệnh nhân có tổn thương chức năng thận thì liều sẽ thay đổi.

Dùng tại chổ cidofovir gel 1% được hứa hẹn cho điều trị HSV-2 kháng acyclovir. Tuy nhiên, dạng này chưa có trên thị trường. Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với placebo của cidofovir gel ở những bệnh nhân AIDS để điều trị HSV không đáp ứng với acyclovir , người ta thấy nó giúp lành sang thương đáng kể cũng như là giảm đau. Một nghiên cứu trường hợp gần đây ở Ao cho thấy việc điều trị với cidofovir tĩnh mạch làm lành vết loét quanh hậu môn mà nó đã không đáp ứng với điều trị bằng valacyclovir. Tuy nhiên, dữ liệu về sử dụng cidofovir còn quá ít và hiện nay FDA chưa cho phép sử dụng cidofovir để điều trị HSV-2.

Bệnh nhân có tổn thương hệ miễn dịch khác
Kháng thuốc có thể cũng xuất hiện ở những người có tổn thương hệ miễn dịch. Ơ những bệnh nhân này, nhiễm HSV thực sự có thể dẫn đến bệnh tật và tử vong. Ơ những bệnh nhân này cũng khó phát hiện HSV-2 hơn, và các triệu chứng gợi ý như các vết loét dày sừng rộng mạn tính cũng không thường thấy. BN tổn thương hệ miễn dịch có thể được điều trị cùng một liều lượng thuốc kháng virút HSV-2 như BN có miễn dịch bình thường, nhưng cần phải thật cảnh giác với sự phát triển của các virút kháng acyclovir.

Phụ nữ có thai.
Do nguy cơ nhiễm herpes cho trẻ sơ sinh, phụ nữ có thai nên được thử nghiệm HSV-2, lý tưởng nhất là trước khi bắt đầu tam cá nguyệt thứ ba. Điều này có thể là một vấn đề nhạy cảm để nói với người mẹ đang chờ sinh con, nhưng cần phải bàn luận rõ ràng về những nguy cơ trên thai nhi.

Trẻ em được sinh ra từ người mẹ có HSV dương tính thì có nguy cơ bị nhiễm virút này; tuy nhiên, thời gian và mức độ nặng của nguy cơ có phần thay đổi. Khoảng 40% trẻ bị nhiễm do mẹ bị nhiễm HSV nguyên phát trong tam cá nguyệt thứ ba; trong khi đó, mẹ bị herpes sinh dục tái phát thì trẻ có nguy cơ nhiễm trong lúc sinh. Nhiễm trùng nguyên phát trong tam cá nguyệt thứ ba cũng liên quan đến thai chậm phát triển trong tử cung và sanh non.

Acyclovir, valacyclovir, và famciclovir là những thuốc được phân loại B trên phụ nữ có thai, và tính an toàn lâu dài cho thai nhi khi tiếp xúc với các thuốc kháng virút này đến nay chưa được biết. Năm 1993, Registry Pregnancy thông báo về tình trạng tiếp xúc với acyclovir trước khi sinh trong suốt thời gian hơn 10 năm. Trong nghiên cứu này, dị tật khiếm khuyết chiếm khoảng 4% trẻ sinh ra sống ở những phụ nữ đã sử dụng acyclovir trong tam cá nguyệt đầu.  

Điều trị kháng virút được khuyến cáo trong một vài trường hợp, nhưng cả tình trạng bệnh và thai kỳ đều ảnh hưởng đến chiến lược điều trị. Ví dụ, đối với nhiễm trùng nguyên phát trong giai đoạn thai muộn, không khuyến cáo điều trị kháng virút, vì điều trị kháng virút trong giai đoạn này có thể làm chậm quá trình chuyển huyết thanh và lượng kháng thể kháng HSV của mẹ qua thai ít hơn. Điều này làm tăng khả năng nhiễm trùng sơ sinh trong khi sanh. Phụ nữ nhiễm HSV nguyên phát sớm hơn trong thai kỳ có thể được điều trị với kháng virút để làm giảm triệu chứng và giảm sự phát tán của virút và mau lành vết thương; tuy nhiên, khoảng thời gian điều trị lý tưởng trong giai đoạn mang thai đến nay vẫn chưa được xác định.

Hiện nay, trường đại học Sản Phụ khoa Hoa Kỳ khuyến cáo việc điều trị  ức chế chỉ trong vòng 4 tuần cuối của thai kỳ; thai phụ bị tái phát trong khi mang thai chỉ nên được điều trị nếu có các triệu chứng nặng. Liều lượng sử dụng trong khi mang thai cũng bằng với các liều lượng chuẩn. Phương pháp sanh cũng thay đổi theo thời gian nhiễm bệnh. Phụ nữ có huyết thanh dương tính trước khi có thai chưa chắc truyền HSV vì trong tử cung họ đã chuyển kháng thể qua thai và có thể sanh ngã âm đạo nếu không có sang thương nào hiện diện. Nếu xuất hiện những sang thương bắt đầu khi sanh hoặc nếu nhiễm trùng nguyên phát xảy ra trong tam cá nguyệt cuối thì nên chọn mổ bắt con.

Phòng ngừa
Kiên sinh hoạt tình dục trong suốt giai đoạn bùng phát và sử dụng bao cao su (BCS) vào những thời điểm khác, đặc biệt là trong khi mang thai, có thể giúp ngăn ngừa sự lây nhiễm HSV-2 từ nam sang nữ. Sử dụng BCS có hiệu quả ngăn ngừa lây nhiễm HSV từ nam sang nữ, nhưng dữ liệu về tác động của BCS đối với lây truyền từ nữ sang nam chưa được kết luận. Ưc chế nhanh virút làm giảm sự phát tán không triệu chứng, vì thế điều trị bằng các thuốc ức chế virút có thể cũng giúp làm giảm lây nhiễm. Một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên gần đây được báo cáo trong Hôi Nghị Khoa Học về Các Thuốc Kháng Virút và Hoá Trị (ICAAC) cho thấy sử dụng valacyclovir làm giảm đáng kể khả năng lây truyền HSV-2 ở những cặp bạn tình có một người bị nhiễm. Việc đảm bảo BN bị nhiễm nhận thức được khả năng lây truyền khi không có triệu chứng là điều hết sức cần thiết. Những BN này phải biết rằng họ vẫn bị nhiễm ngay khi không nhìn thấy triệu chứng. Tuy nhiên, hầu hết nhiễm HSV-2 xảy ra khi người bị nhiễm không biều hiện các sang thương nhưng vẫn phát tán virút.

Chất diệt khuẩn
Hơn vài năm qua, đã có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các thuốc diệt khuẩn tại chổ vốn có thể ngăn ngừa các nhiễm trùng lây truyền qua đường sinh dục (STI). Thế hệ đầu tiên của các chất diệt virút không tẩy phổ rộng hiện đang sử dụng trên lâm sàng gồm các chất ức chế dựa vào sulfate polymer và các acid đệm.  Các kháng thể đơn dòng cũng được phát triển như những chất diệt khuẩn. Một nghiên cứu gần đây trên chuột đã thử nghiệm hiệu quả của việc ngăn ngừa nhiễm HSV-2 và độc tính trên âm đạo của những thuốc diệt khuẩn khác nhau và những sản phẩm đặt âm đạo  gồm K-Y plus, Gynol II, Advantage S, Replens, BufferGel, PC-550, Carraguard, và No Fertil. Các nhà nghiên cứu tìm thấy Carraguard va PC-550 có hiệu quả hơn hết trong ngăn chặn lây nhiễm HSV. Một nghiên cứu khác khảo sát hiệu quả của dendrimers, hoặc các đại phân tử có hoạt tính kháng virút phổ rộng và có độc tính ít nhất đã chứng minh hiệu quả trên thú vật mẫu. Một nghiên cứu invitro gần đây cho thấy dendrimer SPL-2999 ức chế cả sự xâm nhập của virút và các giai đoạn cuối của sự sao chép HSV-1 và HSV-2.

Vắc-xin
Vắc-xin truyền thống là sử dụng virút toàn phần hoặc các bán đơn vị protein vẫn chưa tỏ ra thành công. Tuy nhiên, một số vắc-xin dựa trên các bán đơn vị protein từ các glycoprotein vỏ bao của HSV-2 đã đạt được bước tiến ca trên các thử nghiệm lâm sàng. Những kết quả đáng khích lệ được báo cáo trong các nghiên cứu, ở đó những phụ nữ nhiễm HSV có huyết thanh âm tính đã được điều trị với vắc-xin của glycoprotein D bị cắt bớt của HSV-2. Các glycoprotein vỏ bao được chọn vì chúng là mục tiêu của đáp ứng kháng thể và vì chúng khởi phát các đáp ứng miễn dịch tế bào.  Do ít thành công khi dùng vắc-xin truyền thống làm người ta quan tâm đến việc xác định các thể tương quan của đáp ứng miễn dịch, dẫn đến lượng giá lại mục đích của vắc-xin phòng ngừa, và khuyến khích một số phát minh sản xuất các loại vắc-xin. Các loại này bao gồm các vắc-xin bán đơn vị tác động lên đáp ứng miễn dịch tế bào, vắc-xin chế từ các dòng virút sống giảm độc lực, và từ những dòng đột biến do sự sao chép ly giải không hoàn toàn. Do hiểu được những cơ chế đáp ứng miễn dịch  mà có nhiều bàn luận làm thế nào để hoạt hóa và giữ vững được miễn dịch qua trung gian tế bào. Kết quả của công trình này là một sự hiểu biết thấu đáo miễn dịch kháng virút trong niêm mạc sinh dục và hệ thần kinh, cũng như điều trị miễn dịch tác nhân gây bệnh HSV. Vắc-xin HSV cũng đang được thử nghiệm về hiệu quả như liệu pháp miễn dịch trong điều trị nhiễm HSV.
Herpes sinh dục và các vấn đề chất lượng cuộc sống
Herpes sinh dục gây ảnh hưởng đáng kể trên chất lượng sống ở những người bị nhiễm. Những ảnh hưởng phức tạp trên cảm xúc, thể chất và xã hội có sự cộng hưởng với nhau mà khó có thể một mình trạng thái thể chất có thể giải quyết được. Gần đây đã có một vài khảo sát quốc tế nghiên cứu về khía cạnh chất lượng sống ở những bệnh nhân bị herpes sinh dục.

Trong một khảo sát cắt ngang ở một số quốc gia, 45% người nhiễm herpes sinh dục tái phát cho biết hiệu quả làm việc của họ bị giảm sút vì các triệu chứng của bệnh. Đối tượng nghiên cứu cho biết hiệu quả làm việc bị giảm từ 25-50% khi có các triệu chứng. Ngoài ra, BN bị tái phát có thang điểm đo lường chất lượng sống giảm đi đáng kể. Với khoảng thời gian trên hai năm, 29% thông báo họ có cảm giác buồn và suy sụp hầu hết các ngày. Mặc dù BN được điều trị ở các bệnh viện chuyên khoa cho biết họ rất hài lòng với điều trị nhưng BN được điều trị bởi thầy thuốc chăm sóc ban đầu thì ít khi được hài lòng. Dữ liệu này nhấn mạnh những ảnh hưởng của herpes sinh dục trên chất lượng sống không liên quan đến tần suất phát bệnh. Mức độ nặng của các triệu chứng trong giai đạn phát bệnh, sự xấu hổ ngại ngùng và suy sụp, và sự kỳ thị xã hội có thể góp phần vào làm thương hại đến chất lượng sống.

Các cuộc khảo sát ở Mỹ, Châu Âu, Uc, và Nam Phi cho thấy cùng một kết quả với chỉ 56% người được điều trị bằng thuốc kháng virút thỏa mãn với việc điều trị chăm sóc, và dù vậy có 41% bệnh nhân không được điều trị cũng thấy hài lòng. Anh hưởng của bệnh đòi hỏi phải chú ý đến mỗi cá thể người bệnh và chiến lược điều trị phải thích hợp cho từng nhu cầu của mỗi cá thể, không chỉ chú ý đến số  lượng tái phát mà còn phải chú ý đến thái độ của họ về bệnh này, đánh giá để giúp đỡ (cả về vật chất lẫn tinh thần), và các cách đối phó. Cần phải có chiến lược điều trị, gồm cả tham vấn, chú ý đến gánh nặng tâm lý xã hội mà bệnh nhân đang gánh chịu.

Các yếu tố lối sống, chế độ ăn và điều trị nâng đỡ
Vài dữ liệu cho thấy một yếu tố quan trọng khác để xử trí nhiễm HSV đó là xử trí stress. Một nghiên cứu của Cohen và cộng sự năm 1999 cho thấy stress kéo dài là một yếu tố tiên lượng cho tần suất tái phát, và một nghiên cứu gần đây hơn ở những phụ nữ nhiễm HIV cũng có kết quả tương tự. Cohen cho biết tâm trạng tính khí thoáng qua và những thay đổi trong cuộc sống ít có ảnh hưởng đến tái phát bệnh và cho rằng yếu tố quan trọng nhất là xử trí stress toàn thể, không phải là điều trị trạng thái bồn chồn. Một nghiên cứu 10 tuần về can thiệp xử trí trạng thái stress về hành vi nhận thức ở một nhóm người đồnh tính luyến ái nam nhiễm HIV có triệu chứng nhẹ cho thấy hàm lượng kháng thể IgG kháng HSV-2 gia tăng đáng kể khi so sánh với nhóm chứng không điều trị.

Chế độ ăn cũng ảnh hưởng đến khả năng tái phát bệnh, bởi vì chế độ ăn đầy đủ giúp nâng đỡ hệ miễn dịch. Cung cấp L-lysine cũng góp phần trong điều trị nâng đỡ HSV-2. Mặc dù còn hạn chế về bằng chứng nhưng một số nhỏ các nghiên cứu vào những năm 1980 cho thấy L-lysine có ích trong ngăn ngừa tái phát và làm giảm các triệu chứng nặng của bệnh. Bạn có thể gặp nhiều bệnh nhân sử dụng L-lysine nhưng dường như không có một ảnh hưởng có hại nào. Tuy nhiên, do ảnh hưởng do sử dụng lysine lâu dài vẫn chưa được khảo sát, nên tốt nhất là bệnh nhân chỉ sử dụng lysine trong giai đoạn tiền triệu ngay trước khi phát bệnh.

KẾT LUẬN
Herpes sinh dục vẫn còn tiếp tục lây lan nhanh chóng. Vì số người nhiễm bệnh gia tăng nhanh nên cần khống chế dịch bằng cách gia tăng nhận thức của cộng đồng và làm giảm số nhiễm mới. Một số công cụ mới có thể giúp cho thầy thuốc chăm sóc sức khỏe ban đầu hoàn thành mục tiêu này. Giáo dục bệnh nhân và tư vấn vẫn là các công cụ quan trọng làm giảm nguy cơ lây nhiễm, giúp đỡ về tâm lý, giúp cho bệnh nhân hiểu thấu đáo về bệnh và cách điều trị có thể, góp phần tăng hiệu quả điều trị.

Bằng những phương pháp phát hiện và điều trị hiện nay, người ta có thể kiểm soát dịch và nhiễm trùng tái phát. Điều trị ức chế kháng virút, gồm chế độ điều trị ngày một lần với valacyclovir, có ích trong việc ngăn ngừa tái phát và ngăn chặn dịch. Bằng cách giảm số lần và thời gian phát bệnh, cũng như giảm độ phát tán virút không triệu chứng, điều trị ức chế đã làm giảm nguy cơ lây nhiễm. Song song với việc gia tăng nhận thức của bệnh nhân, vấn đề đánh giá chính xác tình trạng bệnh và điều trị thích hợp của thấy thuốc chăm sóc ban đầu có thể đóng vai trò sống còn trong việc giảm lây truyền herpes sinh dục.

Nguyễn Vũ Thượng & Lý Quốc Thịnh Theo
Genital Herpes and The Primary Care Practitioner, Medscape, 2003


 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419